LỢI ÍCH CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Hưng Đạo Vương

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Lệ Thi
Ngày gửi: 13h:13' 22-08-2024
Dung lượng: 717.7 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Trần Lệ Thi
Ngày gửi: 13h:13' 22-08-2024
Dung lượng: 717.7 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
HƯNG ĐẠO VƯƠNG
Lê-Văn-Phúc Hòa-lâm viên tu soạn
Phan-Kế-Bính Cử-nhân kính soạn
Thái-Bình Tuần-phủ Phạm-Văn-Thụ,
duyệt chính, kính tự.
Đông-Kinh Ấn-Quán in lần thứ nhất
HA NOI 1914
***
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
道大王聖像
鴻勲仁武興
德功盛偉烈
北大元帥隆
父上國公平
陳
朝
太
師
尙
陳 Trần
興 Hưng
道 Đạo
王 Vương
傳 Truyện
傳興道王陳
HƯNG-ĐẠO VƯƠNG
TỰA
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Khổ tâm thay! những nhà sốt sắn về sự giáo-dục ở vào cuộc đời chọi nhau bằng óc này, chăm chăm
lấy bút thay gươm, rỏ mực ra máu, trên đối với hơn 4000 năm tổ-quốc, dưới đối với hai mươi nhăm
triệu đồng-bào, có khi dùng cách trực-tiếp; cũng có khi dùng cách gián-tiếp.
Cách trực-tiếp nên dùng thế nào? Nên soạn pho sử-yếu, chép toàn bằng chữ quốc-văn ; để hết thẩy
mọi người nhớn, trẻ-con, ai nấy cũng dễ hiểu.
Cách gián-tiếp nên làm thế nào? Nên nhân lối tiểu-thuyết, đại thành ra bộ quốc-chí, để hết thẩy
nhà-quê, kẻ-chợ, đâu đấy cũng thích xem.
Bởi vì chữ là chữ nước mình, sử là sử nước mình, truyện là truyện nước mình, hồn vía văn-minh
phảng phất ở đó. Nếu muốn lên đàn diễn phép chiêu lấy quốc-hồn, mở xưởng rèn nghề đúc nên dân-trí,
chi bằng tập chữ bản-quốc, học sử bản-quốc, xem truyện bản-quốc; nhưng thấy cách gián-tiếp có nhẽ
so với cách trực-tiếp lại càng khỏe hơn, tiện hơn và mau hơn.
Nước ta lập quốc đã lâu, khai hóa cũng sớm. Nam-đế sơn-hà, thư giời rọng về, trải bao phen lừng
lẫy cõi Á-đông, nước tuy già, nhưng hồn vẫn tỉnh táo, nhẽ đâu ngủ mê mãi, không ai khua thức dậy.
Trách vì cớ giáo-dục của dân nước ta, trước kia nhầm lẫn, chữ nước mình chả tập, sử nước mình chả
học, truyện nước mình chả xem, đâu là sử Tam-hoàng cho chí Tống, Nguyên, Minh, Thanh, nhớ như
văn-sách, đâu là truyện Tam-quốc cho chí Thuyết-đường, Thủy-hử, diễn thành tấn tuồng, chỉ chăm
những sự đâu đâu, mà gốc tích nhà mình, loài giống mình, họ đang mình, nào ai là ông khởi-tổ sáng lập
ra nước, nào ai là bực anh-hùng cạnh tranh với Tầu, ai là kẻ có công-đức với quốc dân, ai là người
đăng kỷ-niệm trong xã-hội, hỏi đến thì mơ hồ không biết, hoặc sao nhãng không nhớ, rõ thật là mồ cha
chả khóc, khóc đống mối, mồ mẹ chả khóc, khóc bối bòng bong.
Than ôi! bố rồng, mẹ tiên, con nòi giống cũ, núi xanh nước biếc, vẫn đất cất nhà, cùng chôn rau cắt
rốn trong cõi Việt-nam, ai chẳng mong có lúc mở mặt mở mày với trên thế giới. Nhưng trước hết phải
lấy phù phép luyện quốc-hồn, làm máy móc khai dân-trí, in hai chữ quốc-gia vào óc, sẽ có thể gánh
một quả địa-cầu lên vai.
Quốc-hồn ta ở đâu! Quốc-hồn ta ở đâu! Sau đời vua Ngô-vương Quyền, vua Lý Nam-Đế, trước
đời vua Lê Thái-Tổ, vua Nguyễn Quang-Trung, nẩy ra một bực đại anh-hùng ấy là ai? là đức Hưngđạo đại-vương Trần-quốc-Tuấn đó.
Đương lúc thế lực nhà Nguyên chấn động khắp cả châu Âu, châu Á, ai ngờ trứng chọi với đá ;
ngoài nước Nhật lại có nước Nam ta. Dẫu cho rằng đất thiêng người giỏi, vua thánh tôi hiền phúc
nước đã đành rồi, nhưng rút ra chỉ trông cậy ở lòng người là vững.
Người ta tưởng nhà Trần có ông Hưng-Đạo, cũng như nhà Lý có ông Thường-Kiệt, an nguy hệ ở
một tay, không biết rằng cá khỏe vì nước, chim khỏe vì..., có đạo thế rồi mới mong có quyền lực được,
trong có một ông Hưng-Đạo, mà ngoài bách quan hết thẩy như anh em ông Hưng-Đạo, trên có một ông
Hưng-Đạo, mà dưới cử quốc hết thẩy như con cháu ông Hưng-Đạo. Phỏng chỉ một ông Hưng-Đạo vác
thanh thần-kiếm địch sức với lũ Phạm-Nhan, chưa chắc đã thua nào, huống chi hằng-hà sa-số ông
Hưng-Đạo đeo chữ “sát thát” thi gan với nòi Mông-cổ, một giọt thiết-huyết rơi đến đâu lở đất long
giời, một ngọn nghĩa-kỳ phất đến đâu cuốn mây quét gió, dẫu mười cậu Thoát-Hoan thái-tử, trăm chú
Mã-Nhi kiêu tướng, cũng chả vần chi.
Lạ thay! nhà Trần vì đâu gây dựng nên cách dân-đoàn, chỉ vì theo tôn-giáo Phật, biết nghĩa xả-thân
cứu thế, thật bác-ái, thật mạo-hiểm, thật nhẫn-nại, tu trọn ba điều công-đức, và mở ra một cách vănminh; này như vua tôi ăn yến, rắt tay mà hát, có ý bình đẳng ; hội-đồng kỳ-lão, bàn sự đánh Nguyên, có
ý lập hiến ; rất tốt là lý-trưởng, dùng toàn ngũ lục phẩm quan, giao quyền xử đoán, đã phân minh ra
cách địa-phương tự-trị rồi. Bởi vậy dân-quyền ngày càng trọng, dân-đức ngày càng tiến, và quốc-hồn
ngày càng khỏe mạnh. Tiếc cho trước kia quốc-sử không thể vẽ được hết cái tinh-thần, mà sau này
quốc-dân chỉ biết sùng kính những cái hình-thức, nào đâu là lập tĩnh, lập điện, lên cốt, lên đồng, bắt tà,
bắt ma, phát bùa, phát dấu, thành ra một thói tin mê, so lấy nghĩa kỷ-niệm công-đức, đã là trái cách
văn-minh, luận đến điều tiết-độc thần-minh, lại đáng ghép vào tội lệ. Sao không nghĩ vua quan nhà
Trần đều học phật, mà đắc đạo đấy, đối với chúng-sinh cầu sự xá-thí, chớ có mong gì hưởng báo đâu;
nếu ta biết sùng kính ông Hưng-Đạo về sự thánh thần, thì cái quốc-hồn ta tỉnh, nếu ta chỉ sùng kính ông
Hưng-Đạo về sự ma quỉ, thì cái quốc-hồn ta mê. Mê mê, tỉnh tỉnh, bởi tự lòng ta, hễ có học vấn, thì sẽ
có tư tưởng, có tư tưởng thì sẽ có ngôn luận, có ngôn luận thì sẽ có sự thực.
Nay gặp hội nhà-nước, rộng lòng khai hóa, bắt đầu sự học cần bực phổ-thông, muốn dùng cách
trực-tiếp chăng, chả gì bằng soạn sử quốc-ngữ ; muốn dùng cách gián-tiếp chăng, chả gì bằng soạn
truyện quốc-ngữ ; lột hết cái tinh-thần quốc-sử ra chữ quốc-văn, thật ích cho đồng-bào ta lắm ; tiện
cho học-giới ta lắm. Tôi vẫn ước ao dịp này, sau cũng có nhà chước thuật, vì nước tổ Việt ta mở rạp
diễn-văn, may sao gặp sở Đông-kinh-ấn-quán đưa bộ sách này, xét thể cách hệt như lối Tam-quốc-chí,
vừa có sự thực, vừa có nghị-luận, chắc những người có huyết-tính, xem sách này ai cũng phải kính,
cũng phải mến, cũng phải hát, cũng phải khóc, cũng phải đặt quyển mà thở dài. Vậy đốt hương mà viết
bài này, trước là ghi cái cảm tình của quốc dân, sau nữa giải cái khổ-tâm của người tác-giả. Thử hỏi
nay những nhà sốt-sắn về sự giáo dục nghĩ làm sao đây?
Đàn-viên Phạm-Văn-Thụ kính soạn.
***
HỒI THỨ NHẤT
Nhân dịp biến, anh-hùng xuất hiện,
Ỷ thế to, đạo-khấu tung hoành.
Trải xem xưa nay nước Nam anh-hùng, hào-kiệt cũng nhiều, mà anh-hùng lại thường nhân lúc biến
loạn mới hiển tiếng. Về thời trước như Ngô-Quyền, Đổng-thiên-vương, Bố-Cái-đại-vương, Đinh-tiênhoàng, hai vị Trưng-Trắc, Trưng-Nhị, Lý-thường-Kiệt, tuy so với thế-giới thì chưa thấm vào đâu,
nhưng trong một thời làm nên công nghiệp kinh thiên, động địa, cho dân cho nước được nhờ, thì cũng
lưu được tiếng thơm về sau, khiến cho ai ai nghe thấy truyện, phải kinh, phải trọng, phải yêu, phải mến,
mà đúc nên được một cái hồn tỉnh táo trong cõi Nam-việt.
Từ khi những bậc anh-hùng ấy quá vãng, non nước trải bao thu, kế đến nhà Trần, mới lại có một
tay đại anh-hùng xuất thế.
Triều nhà Trần, lòng giời mở vận Đông-a, tổ tích phát tại làng Tức-mặc (về huyện Mỹ-lộc, tỉnh
Nam-định). Vua Thái-tôn thay ngôi nhà Lý, ngài là một vị minh quân, lại nhờ có văn võ trăm quan, hết
lòng phò tá. Tự khi lên ngôi đến bây giờ, ngoại 30 năm, bốn phương yên ổn, trăm họ vui vẻ thái bình.
Bấy giờ bên Tầu đang thời vua Lý-tôn nhà Tống. Nhà Tống lúc ấy đang vận suy nhược, mà vận nhà
Nguyên sắp lên. Nhà Nguyên thì vốn là giống Mông-cổ. Vua Thế-tổ nhà Nguyên tên là Hốt-tất-Liệt,
đang lúc cường thịnh binh hùng tướng dũng, nay đánh Kim, mai lấn Tống, chỉ chăm một việc mở mang
bờ cõi.
Trong năm Đinh-tị, niên hiệu Nguyên-phong thứ bẩy (năm Bảo-hữu thứ năm nhà Tống, lịch tây
1257 sau Thiên-chúa giáng sinh), tướng Mông-cổ tên làm Ngột-lương-cáp-Thai (có bản dịch là Ô-lancáp-Đạt) nhân vừa bình định xong đất Đại-lý tức là đất Vân-nam) tháng tám kéo quân tràn sang phận
Hưng-hóa nước Nam.
Chúa trại Qui-hóa tên là Hà-Khuất, vội vã sai người chạy ngựa phi báo về kinh-đô Thăng-long
(tức Hà-nội).
Bữa sau vua Thái-Tôn khai chầu, trăm quan áo mũ lạy trước sân rồng, tung hô ba tiếng, rồi có
Thái-sư tướng-quốc là Trần-thủ-Độ (chú vua) ra ban tâu rằng:
- Tâu bệ hạ, nay có chúa trại Qui-hóa báo tin rằng quân Mông-cổ tràn vào phận Hưng-hóa, xin
thánh chỉ phán cho làm sao?
Mặt rồng nổi giận, phán rằng:
- Mông-cổ vô cố dám lấn vào cõi ta, chẳng hay văn võ các ngươi, có ai ra phòng ngữ được cho
trẫm không?
Có một vì vương bước ra tâu rằng:
- Muôn tâu bệ-hạ, thần xin cất quân ra phòng ngữ.
Vua nhác trông ra thấy một vì mắt phượng, môi son, trán cao, hàm én, oai phong dũng mãnh, tướng
mạo khôi ngô, mới gần trạc 30 tuổi.
Vua cả mừng nói rằng:
- Nếu cháu có bụng can đảm như thế, vậy thì cho cháu cất quân đi, nhưng ra đó mà liệu thế không
chống nổi, thì lập tức phi báo về cho trẫm biết.
Vị ấy mừng rỡ lạy tạ giở ra, các quan đều trông mặt thì là Hưng-đạo vương, ngài họ Trần húy
Quốc-Tuấn, phụ thân ngài là An-sinh vương Liễu, tức là anh ruột vua Thái-tôn, mẫu thân là An-sinh
vương phu-nhân, húy Nguyệt.
Khi trước, phu-nhân có mơ thấy một ông thần, tinh vàng, tướng ngọc, tự xưng là Thanh-tiên-đồngtử, phụng mệnh Ngọc-hoàng, ban cho kiếm ấn và đủ tam tài, ngũ bảo, xuống xin đầu thai. Nhân thế có
mang. Đến khi sinh ra ngài[1] gió thơm ngào ngạt, ánh sáng rực nhà. Cách hôm sau có người đạo-sĩ
đến nói rằng: “Đêm qua tôi coi thiên văn, thấy một vì tướng tinh sa xuống ở đây, vậy tôi xin đến
bái kiến.” An-sinh-vương đưa ngài ra cho đạo-sĩ xem. Người ấy xem xong, nói rằng: “Quí hóa!
vương-tử mai sau tất yên được dân, cứu được đời, làm vẻ vang cho nhà-nước.”
Ngài đầy tuổi tôi đã biết nói. Lên sáu tuổi đã biết bày bát trận, làm thơ ngũ ngôn, thông minh khác
chúng, An-sinh vương kén những người có tài dạy ngài học ; ngài học đến đâu thông đến đấy, xem rộng
các sách, mà học thì cốt trọng trung hiếu làm đầu. Lại kiêm tập cả nghề võ; thường bàn thao-lược với
Chiêu-văn vương Nhật-Duật (con thứ sáu vua Thái-tôn), đêm ngày không biết chán, hai anh em rất
tương-đắc với nhau. Có khi hầu vua giảng sách trong tòa Kinh-diên, giảng bàn nghĩa-lý, ứng đối như
nước chẩy. Khi nào nhàn thì tập bắn. Lại thường đem lục-thao, tam-lược của Thái-công, Tử-phòng
diễn làm trận đồ, để dạy các tướng. Ngài xử với người bề dưới thì hiền-từ, tiết-kiệm, khoan-dong, đó
là tam-tài ; dùng người thì kén người trí-mưu, nhân-hậu, dũng-lược, trung-thực, tin-cẩn, đó là ngũ-bảo,
cho nên các tướng-sĩ nhiều người vui lòng theo với ngài.
Hưng-Đạo vương có bốn con, con cả là Hưng-võ vương Trần-quốc-Nghiễn, thứ hai là Hưng-hiếu
vương Quốc-Uy, hai vị bấy giờ đã 15,16 tuổi, giỏi nghề cung ngựa, sức lực hơn người. Con thứ ba là
Hưng-nhượng vương Quốc-Tảng, con thứ tư là Hưng-trí vương Quốc-Nghê, hai vị này thì mới 12, 13
tuổi, còn đang học hành. Lại có một cô con gái tên là Trinh, và một cô con nuôi tên là Nguyên. Hai
người tuy còn nhỏ, nhưng nhan-sắc, trông đã xinh-dòn, cũng đang học nghề nghiên bút.
Ngài lại có 5 tướng bộ-hạ cực giỏi: một người là Dã-Tượng, sức khỏe như voi ; một người là
Cao-Mang ; một người là Đại-Hành ; một người là Nguyễn-địa-Lô, ba người ấy cũng võ nghệ caocường, muôn người khôn địch. Một người họ Yết tên Kiêu tự là Hữu-Thế, người ở làng Hạ-bì tỉnh
Hải-dương, khi trước thường vác cuốc ra bãi bể, thấy hai con trâu trắng ở dưới bể lên chọi nhau trên
bãi cát, một hôm Yết-Kiêu ngồi dình cầm cuốc đánh vào đầu trâu, trâu chạy nhào cả xuống bể ; YếtKiêu giơ cuốc xem thì có lông trâu dính đầu cuốc ; Yết-Kiêu cho là của quí, nuốt ngay vào bụng, tự
bấy giờ sức khỏe lạ thường, lội dưới nước như đi trên mặt đất.
Khi ấy Hưng-đạo vương phụng mệnh về nhà thu xếp đồ khí giới, chia quân làm hai mặt, sai Dã-
Tượng dẫn một đạo đi đường bộ, Yết-Kiêu dẫn một đạo đi đường thủy, ngài dẫn hai con là Hưng-võ
vương, Hưng-hiếu vương và các tướng đi sau. Tháng chín năm ấy, trống vang giời, cờ dợp đất, ba đạo
quân tự thành Thăng-long kéo lên mặt Hưng-hóa.
Tướng tiên-phong là Dã-Tượng đến trước, cắm đồn lập trại, chia giữ các nơi, cách vài ba ngày,
Hưng-đạo vương dẫn đại quân cũng đến nơi.
Ngột-lương-cáp-Thai nghe tin đại quân chia làm hai ngả kéo đến, liền sai phó tướng là Xích-tu-Tư
dẫn quân đánh mặt thủy, còn mình thì dẫn quân đánh mặt bộ.
Hưng-đạo vương dàn trận, sai Dã-Tượng ra khiêu chiến. Dã-Tượng cắp đao phi ngựa ra trước
trận, thét to lên rằng:
- Bớ quân khuyển-dương kia! sao dám vô-cố xâm phạm vào nước ta?
Ngột lương-cáp-Thai nổi giận, sai tên kiêu-tướng là Áo-lỗ-Xích múa thương ra địch. Hai tướng
đấu nhau hơn 100 hợp, chưa rõ được thua, bỗng dưng trong trận Ngột-Lương trống nổi ầm ầm, quân
Mông-cổ chia làm hai mặt tràn đến, như nước vỡ đê. Hưng-đạo vương vội vàng chia quân ra địch ;
nhưng quân mình ít, quân Mông-cổ thì nhiều, Hưng-đạo vương liệu bề cự không nổi rút quân chạy về
Sơn-tây. Quân Mông-cổ thừa thế, đuổi tràn mãi xuống sông Thao mới đóng quân.
Yết-Kiêu nghe tin đại quân lui về Sơn-tây, cũng thu thuyền lui về. Xích-tu-Tư đuổi không kịp, liền
hợp quân với Ngột-lương-cáp-Thai.
Hưng-đạo vương đóng quân ở Sơn-tây, sai người về kinh-đô cáo cấp.
Vua Thái-tôn được tin cả kinh, hội quần thần lại thương-nghị, rồi truyền chỉ ngự-giá thân-chinh.
Sáng hôm sau sai kén 10 chiếc thuyền rồng cực to, và 300 chiến thuyền. Vua dẫn quân Thánh-dực
(tức là quân Ngự-lâm) làm trung-quân; Thái-sư là Trần-thủ-Độ và Tướng-quân là Nguyễn-Khoái dẫn
tả-quân, Thái-úy là Trần-nhật-Hiệu và Tướng-quân là Trần-bình-Trọng dẫn hữu-quân. Mỗi cánh dẫn
100 chiến thuyền, 3.000 quân-sĩ. Lê-phụ-Trần dẫn 20 chiến thuyền làm tiên-phong.
Thượng tuần tháng chạp, chiến thuyền kéo tự sông Phú-lương (tức sông Nhị-hà) lên mạn sông
Thao, đem quân lên bộ dàn trận.
Ngột-lương-cáp-Thai dẫn quân ra đánh. Vua xông pha mũi tên hòn đạn, đốc thúc các tướng vào
đánh. Tướng tiên-phong là Lê-phụ-Trần, một thương một ngựa, xông thẳng vào trận giặc đánh giết,
ngựa đến đâu, quân Mông-cổ rẽ ra đến đấy. Tuy vậy quân Mông-cổ bấy giờ đang mạnh thế quá, các
tướng đánh cũng hăng, nhưng vẫn kém thế. Một hồi lâu quan quân dần dần núng thế phải lui. Vua dẫn
quân xuống thuyền chạy về, sai Lê-phụ-Trần đi đoạn hậu, giặc cũng kéo xuống thuyền đuổi theo, tên
bắn như mưa, Phụ-Trần cầm một mảnh ván thuyền đỡ tên, thuyền vua chạy được thoát.
Hưng-đạo vương trông thấy thế giặc to quá, liệu bề giữ thành không nổi cũng rút quân về.
Quan quân lui về đến đâu, thì giặc thừa thế, đuổi tràn đến đấy. Dần dần tràn xuống đến sông Phúlương. Ngột-lương-cáp-Thai vào phá kinh-thành, thấy ba người sứ-giả, bị giam trong ngục, người nào
cũng trói bằng chạc tre, lẳn vào trong thịt. Nguyên là sứ của Mông-cổ, sai đến dụ hàng, mà vua không
nghe, giam lại ở đấy. Quân Mông-cổ cởi trói cho ba người ấy, thì một người bị đau mà chết.
Ngột-lương-cáp-Thai giận lắm nghiến răng mà nói rằng:
- Ái chả! ai ngờ quân Nam-việt độc dữ làm vậy, xưa nay hai nước đánh nhau, không giết sứ-giả
bao giờ, mà nỡ xử tệ ác thế?
Lập tức truyền quân-sĩ, cho làm cỏ nhân dân trong thành. Thương hại thay! già trẻ trăm họ bấy giờ,
tóc bạc, đầu xanh, làm gì nên tội, chẳng may gặp phải quân hung-ác, giận cá chém thớt, nó biết trách
người xử tệ, mà nó xử tệ lại gấp trăm, gấp nghìn! Xưa nay an-nghiệp sung-sướng nhường nào, mà bỗng
dưng người bị đâm, kẻ bị chém, người già, con trẻ cũng mắc phải tai nạn, cửa nhà tàn phá, vườn ruộng
tan hoang, nói ra xót ruột đau lòng, ai là không muốn sả thây moi ruột những quân tàn ác ấy.
Quân Mông-cổ làm cho phũ tay tàn ác, rồi lại tiến quân đuổi theo đến bến Đông-bộ-đầu (thuộc
huyện Thượng-phúc, Hà-nội). Vua lui quân về sông Thiên-mạc (thuộc về phủ Lý-nhân).
Hưng-đạo vương bấy giờ tuy được dự cầm quân, nhưng quyền chính còn do tự thái-sư Trần-thủĐộ, và thái-úy Trần-nhật-Hiệu. Thủ-Độ cũng là một tay tài cán giỏi, hết lòng lo việc nước. Nhật-Hiệu
thì tiếng là hoàng-thân, cầm quyền triều-đình, mà trí mưu thì kém, lắm lúc nguy hiểm không có tài ứng
biến.
Khi ấy vua thấy quân Mông-cổ mạnh thế, quân mình đã nguy núng đến nơi. Ngự thuyền đến hỏi
Nhật-Hiệu xem có kế gì không. Nhật-Hiệu đang ngồi đầu thuyền, thấy vua hỏi, không biết nghĩ ra làm
sao, mới cầm cái bơi chèo viết xuống nước hai chữ “Nhập Tống”, là có ý khuyên vua chạy sang
Tống.
Vua lại hỏi:
- Thế quân Tinh-cương [2] ở đâu?
- Tâu bệ-hạ, đòi chúng nó không đến nữa.
Vua bực mình, quay thuyền đến hỏi Trần-thủ-Độ. Thủ-Độ thì gan vẫn vững, mà ứng biến lại nhanh,
liền tâu rằng:
- Muôn tâu bệ-hạ, đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ-hạ đừng lo!
Vua thấy nói cứng cỏi, bấy giờ cũng hơi vững dạ.
Đó là:
Chỉ vị bền lòng lo việc nước,
Mới hay phá giặc lập công to.
Chưa biết sự thể về sau thế nào, sẽ xem hồi sau phân giải.
HỒI THỨ HAI
Khéo dùng mưu, thế bại thành thế thắng,
Chịu thông hiếu, cuộc chiến đổi cuộc hòa.
Bấy giờ vua Thái-tôn đóng quân ở sông Thiên-mạc, cự nhau với quân Mông-cổ non nửa tháng, sực
lại có hai sứ-giả của Ngột-lương-cáp-Thai sai đến dụ hàng. Vua giận quân Mông-cổ độc ác, sai trói
sứ-giả đuổi về. Liền hội các quan thương nghị kế phá giặc.
Trần-thủ-Độ hiến kế rằng:
- Quân Mông-cổ tự khi sang đây, đánh trận nào được trận ấy, tướng sĩ sinh bụng kiêu căng, coi ta
rẻ rúng, chắc không phòng bị, vậy đêm hôm nay xin đến cướp trại giặc thì tất phá được.
Vua nghe nhời, sai Thủ-Độ, Nhật-Hiệu, Lê-phụ-Trần lĩnh 5.000 quân, dẫn 50 chiến thuyền, kéo tự
đấy lên bến Đông-bộ-đầu. Một mặt sai Hưng-đạo vương, dẫn 30.000 quân mã men bờ sông tiến lên.
Còn vua tự dẫn 30.000 quân tiếp ứng.
Chiều vàng vàng mặt giời, Thủ-Độ truyền quân ngả cờ im trống dần dần tiến lên bến Đông-bộ-đầu.
Bấy giờ vào đầu hạ tuần tháng chạp, thuyền đi mặt nước, lấp loáng bóng giăng, mấy chòm u uất bóng
cây xanh, một giải mông mênh mầu lụa trắng, bốn bề lặng ngắt, thuyền đi vùn vụt như tên. Khi canh hai
gần đến trại giặc, cách 3 dặm mặt sông, gặp mười chiếc thuyền tuần-tiễu của giặc mỗi thuyền ước
chừng 30 người. Thủ-Độ nổi hiệu còi, dàn thuyền vây, bắt được 8 chiếc, còn 2 chiếc chạy thoát về phi
báo. Thủ-Độ thúc thuyền bơi ùa vào đuổi mãi đến tận trại giặc, quả nhiên giặc không phòng bị trước.
Lê-phụ-Trần trước hết xông vào, phóng hỏa đốt thuyền giặc, quan quân dàn thuyền ra ba mặt đánh thốc
vào. Quân Mông-cổ đương giấc ngủ mê, choàng đứng dậy, kinh hồn thất đảm, xô xát, dẫm nhau, kẻ thì
chạy lên bờ, kẻ thì nhào xuống sông, chỉ tìm đường thoát thân, không ai bụng nào kháng cự.
Đêm hôm ấy, trên mặt sông, lửa sáng rực giời, trống đánh vang sông, Ngột-lương-cáp-Thai ở trại
trên cạn, vội vàng thúc quân xuất chiến thuyền ra đánh, lại gặp phải đại quân của vua Thái-tôn vừa
đến, hợp binh đánh giết, quân Mông-cổ chết hại rứt nhiều.
Ngột-lương-cáp-Thai thấy núng thế, lại kéo quân lên bộ tháo đường chạy. Quan quân chia làm hai
mặt, một mặt đánh dưới sông, một mặt lên bộ đuổi theo.
Ngột-lương-cáp-Thai dẫn bại quân tất tả cắm đầu chạy, đến đầu canh tư bỗng thấy một tiếng pháo
nổ, lửa cháy bùng bùng, quân ở đôi bên đường kéo ra đánh. Ngột-lương-cáp-Thai trông thấy hiệu cờ
Hưng-Đạo vương cố sức chống cự một hồi, rồi vừa đánh vừa lui, chạy thoát vào thành Thăng-long.
Thuyền giặc phần bị cháy, phần bị đắm mất nhiều, chỉ chạy thoát được một ít mà thôi, còn bao
nhiêu thì bị quan quân bắt được cả.
Sáng hôm sau, vua Thái-tôn đốc quân thắng trận lên sông Phú-lương, khôi phục kinh thành. Ngộtlương-cáp-Thai rút quân lên mặt thượng-du. Vua Thái-tôn thu phục kinh-đô, mở tiệc khao thưởng các
tướng, phủ-dụ ba quân. Cất Lê-phủ-Trần làm Ngự-sử đại-phu, và gả Thiên-thánh công-chúa họ Lý cho.
Vua lấy nhời an ủy rằng:
- Trẫm khen ngươi cả gan xông đột, nếu không có ngươi thì sao có lúc bây giờ, vậy ngươi nên gắng
sức thêm lên, để cùng hưởng sung sướng với nhau mãi mãi.
Lê-phụ-Trần lạy tạ ơn vua.
Vua lại xa tội cho tên tiểu-hiệu Hoàng-cự-Đà. Nguyên khi trước vua có ban cho tả hữu, mỗi người
một quả muỗm, Hoàng-cự-Đà không được, mang lòng căm tức. Đến khi đại-quân cự nhau với quân
Mông-cổ ở Đông-bộ-đầu. Cự-Đà đi một chiếc thuyền lẻn về trước. Đi đến sông Hoàng-giang (thuộc
về huyện Nam-sang) thì gặp Thái-tử đi thuyền ngược lên, Cự-Đà bơi thuyền lánh vào ven bờ. Quan
quân trông thấy gọi to lên rằng: “Quân Mông-cổ ở đâu?” Cự-Đà vốn lòng căm tức đã lâu, nhân dịp
nói cho hả, liền đáp lại rằng: “Không biết! hỏi những thằng ăn muỗm ấy!” Thái-tử nổi giận, muốn
bắt trị tội ngay, nhưng còn mắc việc đánh giặc là quan hệ hơn, vậy mới để tội ấy không hỏi vội. Đến
khi nay bình định đâu đấy, Thái-tử xin bắt tội Cự-Đà. Vua thương hại đứa ngu dại, vì một miếng ăn nên
oán, coi quả muỗm to hơn quả núi Tản-viên, quên bụng trung vua yêu nước, dù có giết đi cũng chẳng
làm gì, vậy vua xá tội cho thân sâu bọ ấy, để cho khi khác biết khôn đánh giặc mà chuộc tội.
Nói về Ngột-lương-cáp-Thai kéo quân về mặt thượng-du, qua địa phận Hưng-hóa để về Vân-nam.
Khi qua một cánh rừng, bỗng thấy hai bên sườn núi, trống đánh thùng thùng, rồi thấy một đội quân mã,
ước chừng 3.000 người, đầu đội nón buồm, mình mặc áo xanh, mỗi người tay cầm một đồ binh khí,
lưng đeo một bộ cung tên, kéo tràn xuống núi, một tướng đi đầu mắt lồi, râu rậm, mặt sàm sạm đen,
tướng dữ như cọp, một tay cầm lá mộc, một tay cầm mã-đao, quất ngựa xông vào, quát lên rằng:
- Quân kia đi đâu?
Ngột-lương-cáp-Thai sai tên tì tướng múa thương ra đánh, vừa nhẩy vào thì đã bị tướng ấy chém
quay xuống ngựa. Quân Mông-cổ kéo bừa vào đánh, quân bên kia bắn tên ra như mưa, trên đầu tên có
thuốc độc, ai hơi tin phải thì buốt vào đến xương rồi chết. Hai bên đánh nhau lộn bậy một hồi, Ngộtlương-cáp-Thai, tháo đường chạy được thoát. Quân Mông-cổ chết hại rất nhiều.
Tướng ấy nguyên là chúa trại Qui-hóa họ Hà tên Bổng, xưa nay vẫn là người hùng-dũng vùng ấy.
Hà-Bổng biết tin quân Mông-cổ thua trận, tất do đường ấy về Tàu, cho nên họp tập quân mường, đón
đường đánh chẹn ngang.
Ngột-lương-cáp-Thai dẫn quân về Vân-nam. Hà-Bổng thì sai người về kinh-đô, báo tin thắng trận,
và nộp các đồ bắt được của giặc.
Vua thấy người can-đảm hùng-dũng làm vậy, cả khen và phong cho Hà-Bổng tước hầu lại ban
thưởng cho rất hậu.
Quân Mông-cổ tự khi thua trận ấy trở về, phần là thua thì sinh chán, phần là mới lấy được Vânnam, chỉ mong về cho chóng, không bụng nào tranh chiếm gì nữa, cho nên đi đến đâu không nhũng
nhiễu gì đến dân sự. Dân thì còn biết bụng giặc là thế nào, thấy nó không quấy nhiễu, thì cho là giặc
hiền lành, nhân đức, gọi là
Phật-tặc, nghĩa là giặc hiền như bụt.[3]
Vua Thái-tôn bình định xong giặc Mông-cổ, sai sứ sang Tống-triều thông hiếu, cống một đôi tượng,
vì bấy giờ nước ta vẫn phải cống về Tàu. Mông-cổ thấy vậy cũng sai sứ sang bắt ta phải cống. Vua
nghĩ nước mình hẹp nhỏ, mà Mông-cổ tuy tạm thua một lúc, nhưng vẫn có thế hùng-cường, mà mình
không có thể cưỡng mãi được. Nghĩ như thế mới sai Lê-phụ-Trần sang sứ, định 3 năm xin nộp cống
một lần.
Tháng hai năm Mậu-ngọ, vua nhường ngôi cho Thái-tử Hoảng. Thái-tử lên ngôi, tức là vua Thánhtôn, cải niên hiệu gọi là Thiệu-long. Tôn vua cha lên làm Hiển-nghiên-thánh-thọ Thái-thượng hoàngđế.
Vua Thánh-tôn lên ngôi phong em là Quang-Khải (con thứ hai vua Thái-tôn) làm Chiêu-minh đạivương. Cất Nguyễn-giới-Huân làm Đại-hành-khiển, Lê-phụ-Trần làm Thủy-quân Đại-tướng-quân.
Năm Canh-thân niên hiệu Thiệu-long thứ ba (năm Cảnh-thịnh thứ nhất nhà Tống và năm Trungthống thứ nhất vua Thế-tổ nhà Nguyên, lịch tây 1260) Mông-cổ sai Nạp-xích-Đinh mang chiếu-thư
sang dụ rằng:
“Khi trước sai sứ sang thông-hiếu, dám giam chấp lại không cho về, cho nên năm ngoái mới
sinh việc binh nhung. Khi sau cho hai sứ sang chiêu an, lại dám trói mà đuổi về. Nay lại cho sứ
sang khai dụ lần nữa, nếu biết đổi dại dốc lòng nội phụ, thì phải thân sang chầu”.
Vua Thánh-tôn tiếp được thư, phục thư lại rằng:
“Đợi khi nào có chiếu mạng đưa đến, sẽ xin sai tử-đệ vào làm tin”.
Nguyên Thế-tổ tiếp được thư giả nhời, bèn sai Lễ-bộ Lang-trung là Mạnh-Giáp và Viên-ngoại-lang
là Lý-văn-Tuấn lại đem thư sang dụ rằng:
“Phàm các quan liêu, sĩ, thứ bên An-nam, áo, mũ, phép, tắc, mặc y cho tuân tục bản quốc.
Trung-quốc cũng đã răn bảo các quan ngoài biên cương, cấm không được tự tiện xâm nhiễu, vậy
cứ yên trị như xưa.”
Vua nghĩ nước mình nhỏ, qui hồ giữ được trong nước yên ổn, không ai xâm phạm đến quyền mình
thì thôi. Vả lại việc thông hiếu cũng là việc thường, mà người ta đang mạnh thế, mình cũng không thể
vượt được. Ngài mới mở tiệc yến trong cung Thánh-từ, thết đãi bọn sứ-giả, rồi lại sai Đại-phu là
Trần-phụng-Công, và Viên-ngoại-lang là Nguyễn-Diễn sang sứ Mông-cổ đáp-lễ.
Vua Mông-cổ thấy nước ta xử tử-tế chịu phục, mới sai sứ đem sắc sang phong vương cho vua
Thánh-tôn và ban thưởng 3 cuốn gấm Tây-thục, 6 cuốn gấm hoa vàng, định cho nước ta 3 năm phải một
lần vào cống, mỗi lần cống phải nộp vài người nho-sĩ, và thầy-thuốc, thầy-bói, thầy toán-số, thợ
thuyền mỗi hạng 3 người ; lại phải cống đồ sản vật, như các hạng trầm-hương, sừng tê, trân-châu, đồimồi, vân, vân. Lại sai Nạp-xích-Đinh sang làm đạt-lộ-hoa-xích (tiếng Mông-cổ tức là quan chưởngấn) để giám trị các châu quận nước Nam.
Vua sai Dương-an-Dưỡng sang Mông-cổ tạ ơn. Mông-cổ lại tặng thêm một bộ đai ngọc, the lụa và
các vị thuốc.
Vua tuy sợ thế Mông-cổ, bất đắc dĩ phải chịu nhún, nhưng vẫn có bụng căm tức, tháng ba năm
Nhâm-tuất, vua xuống chiếu hội tập các tướng và quân-sĩ các nơi, tập chiến-trận ở bãi phù-sa sông
Bạch-hạc (thuộc về tỉnh Vĩnh-an bây giờ), sửa sang đồ khí-giới, chế tạo chiến thuyền, có ý dự phòng
việc chinh-chiến.
Bấy giờ Thái-sư Trần-thủ-Độ đã già yếu lắm. Đương mùa tháng chạp, giời bỗng nhiên nổi bão to,
cây cối đổ ngổn ngang, dân gian tàn hại, mà Thủ-Độ phải bệnh mỗi ngày một nặng thêm, đến tháng
giêng năm sau thì mất.
Thủ-Độ tuy là người thiển học, thờ nhà Lý thì thực là một tay gian-hùng tàn-ác, nhưng đến làm tôi
nhà Trần, thì lại ra người hết lòng hết sức mấy vua, mà cầm quyền thì rất là công bình. Vua Thái-tôn
được thiên-hạ, toàn là mưu mô tự Thủ-Độ cả ; về sau Thủ-Độ vững lòng lo việc nước, khiến cho nhà
nước nguy lại yên, kể ra thì cũng là một tay tài cán giỏi.
Có thơ khen rằng:
“Sóng gió đùng đùng vận hiểm gian,
Một tay xoay xở chống giang-sơn.
Còn đầu còn vững lòng lo nước,
Ấy mới anh-hùng ấy mới gan!”
Năm Bính-dần thứ chín, (niên hiệu Hàm-thuần thứ hai nhà Tống, và Chí-nguyên thứ ba nhà
Nguyên, lịch tây 1266). Mông-cổ sai sứ đến ban chiếu cải nguyên và ban lịch mới năm ấy.
Tháng hai vua lại sai Dương-an-Dưỡng sang xứ Mông-cổ, xin định lại các thứ nộp cống, và xin
miễn cho không phải cống các hạng nho-sĩ, bói-toán, thợ-thuyền, lại xin lưu Nạp-xích-Đinh làm đạtlộ-hoa-xích mãi mãi.
Vua Mông-cổ tuy hứa nhời ưng cho, nhưng không bao lâu lại có chiếu sang bắt ta phải chịu sáu
khoản sau này:
1 – Phải thân vào chầu.
2 – Sai con hoặc em sang làm tin.
3 – Biên số dân nộp sang.
4 – Phải chịu việc binh-dịch.
5 – Nộp thuế má.
6 – Vẫn cứ đặt quan giám-trị.
Vua Thánh-tôn thấy Mông-cổ bắt phải chịu sáu khoản như thế, tuy ngoài mặt vâng nhời, nhưng vẫn
dùng dằng không chịu. Cách hai năm sau, Mông-cổ lại sai Hốt-lung-hải-Nha sang thay cho Nạp-xíchĐinh làm đạt-lộ-hoa-xích, mà Trương-đình-Trân thì làm phó đạt-lộ-hoa-xích. Hai người mang chiếu
thư của vua Mông-cổ đến, vua nhận chiếu không bái mạng, mà cũng không xuống chào mời bọn sứthần. Vua bảo với bọn ấy rằng:
- Các ngươi là một chức quan ngang hàng thế nào được với ta?
Trương-đình-Trân nói rằng:
- Chúng tôi tuy làm quan, nhưng là người của thiên-tử ; người của thiên-tử tuy rằng nhỏ, cũng còn ở
trên hàng vua chư-hầu.
Vua nghiễm nhiên không đáp lại. Bọn ấy biết ý vua không nghe, từ giở ra về.
Không bao lâu tòa Trung-thư bên Mông-cổ lại viết thư sang dẫn nghĩa xuân-thu nói: “Nguyên, là
trung-quốc, mà Nam-việt là chư-hầu nghĩa tất phải kính trọng thiên-sứ."
Vua cũng nhất định không chịu, sai Lê-Đà và Đinh-củng-Viên sang sứ Mông-cổ biện bác nghĩa ấy.
Lê-Đà, Đinh-củng-Viên, hai người đều có tài ứng đối, khi ấy phụng mệnh đi sứ, sang đến triềuđình Mông-cổ, vua Mông-cổ mắng rằng:
- Các ngươi là sứ-thần Nam-man có phải không?
Lê-Đà tâu rằng:
- Tâu thiên-triều hoàng-đế, mọi-rợ mới gọi là man, nước chúng tôi là nước văn-hiến, không tranh
bờ lấn cõi nước nào, mà cũng không hà hiếp ai, không gọi mà man được. Chúng tôi là sứ-thần Namquốc, chớ không phải sứ-thần Nam-man.
Vua Mông-cổ thấy nói có ý sỏ xiên, tức giận, quát mắng:
- Nam chúa nhà các ngươi, không biết sức mình, làm sao dám ngạo-nghễ cả với thiên-triều?
- Chúa chúng tôi cũng chịu thiên-triều là to nhớn hơn, mới phải cống hiến, sao lại gọi là ngạonghễ?
- Vậy chớ sao chiếu-thư đến không lạt, mà lại không kính trọng sứ-thần?
- Lễ bái, chẳng qua là hư-văn, che mặt thế gian ở ngoài. Chúa chúng tôi kính trọng thiên-triều là
cốt tự trong lòng. Thiên-triều nếu sử nhân đức với ngoại-quốc, thì dù chẳng lễ nhưng vẫn kính trọng
muôn phần ; nếu không có bụng kính trọng thì cho rằng bày hương-án, áo mũ lễ thì thụp, cũng chẳng ra
gì. Còn như sứ-thần chẳng qua là một người của thiên triều sai sang, hoàng-đế là vua một nước nhớn,
chúa tôi cũng là vua một nước nhỏ, có chịu thì chỉ chịu kém hoàng-đế mà thôi, có nhẽ đâu lại phải kém
cả đầy-tớ của thiên-triều nữa?
Vua Mông-cổ thấy hai người cãi gàn, lại càng giận lắm, hầm hầm quát rằng:
- Quân tao đi đến đâu, tan vỡ đến đấy, chỉ sông, sông cạn, chỉ núi, núi tan, chúng bay có biết
không?
Đinh-củng-Viên tâu rằng:
- Hoàng-đế đem nhân nghĩa ra trị thiên-hạ, thì ai chẳng kính phục ; nếu chỉ cậy binh hùng tướng
dũng, thì nước nào chẳng có binh có tướng, có sông núi hiểm trở? Nước chúng tôi tuy nhỏ mọn, cũng
đủ binh tướng cho ra tiếp ứng quân của thiên-triều.
Vua Mông-cổ thấy hai người ứng đối cứng cỏi, mà nói cũng có nhẽ dễ nghe, biết là không ăn hiếp
nổi, mới dịu sắc mặt dụ rằng:
- Các ngươi nói tuy có nhẽ, nhưng phép xưa nay có chiếu mạng thiên-triều đến thì phải lạy, mà
phải trọng đãi sứ-thần. Nếu từ sau còn cưỡng nữa, thì trẫm sẽ cất quân đến hỏi tội đó.
Hai người lạy từ giở ra.
Sáng hôm sau, Mông-cổ mở một tiệc yến trên tròi cao. Tròi có một cột cao 10 trượng, ở trên cắm
một đôi tàn, mời hai sứ lên ăn yến. Hai người biết Mông-cổ muốn thử tài, không lên thì tất bị chúng
cười, mới trèo thang lên ăn yến. Vừa lên khỏi, quân Mông-cổ ở dưới cất thang. Hai người cứ vững
vàng ăn uống như không, no say đâu đấy, mỗi người cầm một cái tàn từ trên trời nhảy xuống. Tàn hứng
gió cứ từ từ xuống đấy, quân Mông-cổ ai cũng chịu là có trí.
Mông-cổ thấy vậy lại bắt hai người giam vào một cái chùa, không cho thức ăn gì cả, khóa kín của
bốn bề, hẹn rằng: “Hết một tháng thì cho ra”. Hai người ở trong chùa, chỉ thấy có hai ông bụt và một
chum nước.
Lê-Đà bảo với Đinh-củng-Viên rằng:
- Có nước thì tất phải có cái, hai ông bụt này chắc là đồ ăn của ta đây!
Hai ng...
Lê-Văn-Phúc Hòa-lâm viên tu soạn
Phan-Kế-Bính Cử-nhân kính soạn
Thái-Bình Tuần-phủ Phạm-Văn-Thụ,
duyệt chính, kính tự.
Đông-Kinh Ấn-Quán in lần thứ nhất
HA NOI 1914
***
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
道大王聖像
鴻勲仁武興
德功盛偉烈
北大元帥隆
父上國公平
陳
朝
太
師
尙
陳 Trần
興 Hưng
道 Đạo
王 Vương
傳 Truyện
傳興道王陳
HƯNG-ĐẠO VƯƠNG
TỰA
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Khổ tâm thay! những nhà sốt sắn về sự giáo-dục ở vào cuộc đời chọi nhau bằng óc này, chăm chăm
lấy bút thay gươm, rỏ mực ra máu, trên đối với hơn 4000 năm tổ-quốc, dưới đối với hai mươi nhăm
triệu đồng-bào, có khi dùng cách trực-tiếp; cũng có khi dùng cách gián-tiếp.
Cách trực-tiếp nên dùng thế nào? Nên soạn pho sử-yếu, chép toàn bằng chữ quốc-văn ; để hết thẩy
mọi người nhớn, trẻ-con, ai nấy cũng dễ hiểu.
Cách gián-tiếp nên làm thế nào? Nên nhân lối tiểu-thuyết, đại thành ra bộ quốc-chí, để hết thẩy
nhà-quê, kẻ-chợ, đâu đấy cũng thích xem.
Bởi vì chữ là chữ nước mình, sử là sử nước mình, truyện là truyện nước mình, hồn vía văn-minh
phảng phất ở đó. Nếu muốn lên đàn diễn phép chiêu lấy quốc-hồn, mở xưởng rèn nghề đúc nên dân-trí,
chi bằng tập chữ bản-quốc, học sử bản-quốc, xem truyện bản-quốc; nhưng thấy cách gián-tiếp có nhẽ
so với cách trực-tiếp lại càng khỏe hơn, tiện hơn và mau hơn.
Nước ta lập quốc đã lâu, khai hóa cũng sớm. Nam-đế sơn-hà, thư giời rọng về, trải bao phen lừng
lẫy cõi Á-đông, nước tuy già, nhưng hồn vẫn tỉnh táo, nhẽ đâu ngủ mê mãi, không ai khua thức dậy.
Trách vì cớ giáo-dục của dân nước ta, trước kia nhầm lẫn, chữ nước mình chả tập, sử nước mình chả
học, truyện nước mình chả xem, đâu là sử Tam-hoàng cho chí Tống, Nguyên, Minh, Thanh, nhớ như
văn-sách, đâu là truyện Tam-quốc cho chí Thuyết-đường, Thủy-hử, diễn thành tấn tuồng, chỉ chăm
những sự đâu đâu, mà gốc tích nhà mình, loài giống mình, họ đang mình, nào ai là ông khởi-tổ sáng lập
ra nước, nào ai là bực anh-hùng cạnh tranh với Tầu, ai là kẻ có công-đức với quốc dân, ai là người
đăng kỷ-niệm trong xã-hội, hỏi đến thì mơ hồ không biết, hoặc sao nhãng không nhớ, rõ thật là mồ cha
chả khóc, khóc đống mối, mồ mẹ chả khóc, khóc bối bòng bong.
Than ôi! bố rồng, mẹ tiên, con nòi giống cũ, núi xanh nước biếc, vẫn đất cất nhà, cùng chôn rau cắt
rốn trong cõi Việt-nam, ai chẳng mong có lúc mở mặt mở mày với trên thế giới. Nhưng trước hết phải
lấy phù phép luyện quốc-hồn, làm máy móc khai dân-trí, in hai chữ quốc-gia vào óc, sẽ có thể gánh
một quả địa-cầu lên vai.
Quốc-hồn ta ở đâu! Quốc-hồn ta ở đâu! Sau đời vua Ngô-vương Quyền, vua Lý Nam-Đế, trước
đời vua Lê Thái-Tổ, vua Nguyễn Quang-Trung, nẩy ra một bực đại anh-hùng ấy là ai? là đức Hưngđạo đại-vương Trần-quốc-Tuấn đó.
Đương lúc thế lực nhà Nguyên chấn động khắp cả châu Âu, châu Á, ai ngờ trứng chọi với đá ;
ngoài nước Nhật lại có nước Nam ta. Dẫu cho rằng đất thiêng người giỏi, vua thánh tôi hiền phúc
nước đã đành rồi, nhưng rút ra chỉ trông cậy ở lòng người là vững.
Người ta tưởng nhà Trần có ông Hưng-Đạo, cũng như nhà Lý có ông Thường-Kiệt, an nguy hệ ở
một tay, không biết rằng cá khỏe vì nước, chim khỏe vì..., có đạo thế rồi mới mong có quyền lực được,
trong có một ông Hưng-Đạo, mà ngoài bách quan hết thẩy như anh em ông Hưng-Đạo, trên có một ông
Hưng-Đạo, mà dưới cử quốc hết thẩy như con cháu ông Hưng-Đạo. Phỏng chỉ một ông Hưng-Đạo vác
thanh thần-kiếm địch sức với lũ Phạm-Nhan, chưa chắc đã thua nào, huống chi hằng-hà sa-số ông
Hưng-Đạo đeo chữ “sát thát” thi gan với nòi Mông-cổ, một giọt thiết-huyết rơi đến đâu lở đất long
giời, một ngọn nghĩa-kỳ phất đến đâu cuốn mây quét gió, dẫu mười cậu Thoát-Hoan thái-tử, trăm chú
Mã-Nhi kiêu tướng, cũng chả vần chi.
Lạ thay! nhà Trần vì đâu gây dựng nên cách dân-đoàn, chỉ vì theo tôn-giáo Phật, biết nghĩa xả-thân
cứu thế, thật bác-ái, thật mạo-hiểm, thật nhẫn-nại, tu trọn ba điều công-đức, và mở ra một cách vănminh; này như vua tôi ăn yến, rắt tay mà hát, có ý bình đẳng ; hội-đồng kỳ-lão, bàn sự đánh Nguyên, có
ý lập hiến ; rất tốt là lý-trưởng, dùng toàn ngũ lục phẩm quan, giao quyền xử đoán, đã phân minh ra
cách địa-phương tự-trị rồi. Bởi vậy dân-quyền ngày càng trọng, dân-đức ngày càng tiến, và quốc-hồn
ngày càng khỏe mạnh. Tiếc cho trước kia quốc-sử không thể vẽ được hết cái tinh-thần, mà sau này
quốc-dân chỉ biết sùng kính những cái hình-thức, nào đâu là lập tĩnh, lập điện, lên cốt, lên đồng, bắt tà,
bắt ma, phát bùa, phát dấu, thành ra một thói tin mê, so lấy nghĩa kỷ-niệm công-đức, đã là trái cách
văn-minh, luận đến điều tiết-độc thần-minh, lại đáng ghép vào tội lệ. Sao không nghĩ vua quan nhà
Trần đều học phật, mà đắc đạo đấy, đối với chúng-sinh cầu sự xá-thí, chớ có mong gì hưởng báo đâu;
nếu ta biết sùng kính ông Hưng-Đạo về sự thánh thần, thì cái quốc-hồn ta tỉnh, nếu ta chỉ sùng kính ông
Hưng-Đạo về sự ma quỉ, thì cái quốc-hồn ta mê. Mê mê, tỉnh tỉnh, bởi tự lòng ta, hễ có học vấn, thì sẽ
có tư tưởng, có tư tưởng thì sẽ có ngôn luận, có ngôn luận thì sẽ có sự thực.
Nay gặp hội nhà-nước, rộng lòng khai hóa, bắt đầu sự học cần bực phổ-thông, muốn dùng cách
trực-tiếp chăng, chả gì bằng soạn sử quốc-ngữ ; muốn dùng cách gián-tiếp chăng, chả gì bằng soạn
truyện quốc-ngữ ; lột hết cái tinh-thần quốc-sử ra chữ quốc-văn, thật ích cho đồng-bào ta lắm ; tiện
cho học-giới ta lắm. Tôi vẫn ước ao dịp này, sau cũng có nhà chước thuật, vì nước tổ Việt ta mở rạp
diễn-văn, may sao gặp sở Đông-kinh-ấn-quán đưa bộ sách này, xét thể cách hệt như lối Tam-quốc-chí,
vừa có sự thực, vừa có nghị-luận, chắc những người có huyết-tính, xem sách này ai cũng phải kính,
cũng phải mến, cũng phải hát, cũng phải khóc, cũng phải đặt quyển mà thở dài. Vậy đốt hương mà viết
bài này, trước là ghi cái cảm tình của quốc dân, sau nữa giải cái khổ-tâm của người tác-giả. Thử hỏi
nay những nhà sốt-sắn về sự giáo dục nghĩ làm sao đây?
Đàn-viên Phạm-Văn-Thụ kính soạn.
***
HỒI THỨ NHẤT
Nhân dịp biến, anh-hùng xuất hiện,
Ỷ thế to, đạo-khấu tung hoành.
Trải xem xưa nay nước Nam anh-hùng, hào-kiệt cũng nhiều, mà anh-hùng lại thường nhân lúc biến
loạn mới hiển tiếng. Về thời trước như Ngô-Quyền, Đổng-thiên-vương, Bố-Cái-đại-vương, Đinh-tiênhoàng, hai vị Trưng-Trắc, Trưng-Nhị, Lý-thường-Kiệt, tuy so với thế-giới thì chưa thấm vào đâu,
nhưng trong một thời làm nên công nghiệp kinh thiên, động địa, cho dân cho nước được nhờ, thì cũng
lưu được tiếng thơm về sau, khiến cho ai ai nghe thấy truyện, phải kinh, phải trọng, phải yêu, phải mến,
mà đúc nên được một cái hồn tỉnh táo trong cõi Nam-việt.
Từ khi những bậc anh-hùng ấy quá vãng, non nước trải bao thu, kế đến nhà Trần, mới lại có một
tay đại anh-hùng xuất thế.
Triều nhà Trần, lòng giời mở vận Đông-a, tổ tích phát tại làng Tức-mặc (về huyện Mỹ-lộc, tỉnh
Nam-định). Vua Thái-tôn thay ngôi nhà Lý, ngài là một vị minh quân, lại nhờ có văn võ trăm quan, hết
lòng phò tá. Tự khi lên ngôi đến bây giờ, ngoại 30 năm, bốn phương yên ổn, trăm họ vui vẻ thái bình.
Bấy giờ bên Tầu đang thời vua Lý-tôn nhà Tống. Nhà Tống lúc ấy đang vận suy nhược, mà vận nhà
Nguyên sắp lên. Nhà Nguyên thì vốn là giống Mông-cổ. Vua Thế-tổ nhà Nguyên tên là Hốt-tất-Liệt,
đang lúc cường thịnh binh hùng tướng dũng, nay đánh Kim, mai lấn Tống, chỉ chăm một việc mở mang
bờ cõi.
Trong năm Đinh-tị, niên hiệu Nguyên-phong thứ bẩy (năm Bảo-hữu thứ năm nhà Tống, lịch tây
1257 sau Thiên-chúa giáng sinh), tướng Mông-cổ tên làm Ngột-lương-cáp-Thai (có bản dịch là Ô-lancáp-Đạt) nhân vừa bình định xong đất Đại-lý tức là đất Vân-nam) tháng tám kéo quân tràn sang phận
Hưng-hóa nước Nam.
Chúa trại Qui-hóa tên là Hà-Khuất, vội vã sai người chạy ngựa phi báo về kinh-đô Thăng-long
(tức Hà-nội).
Bữa sau vua Thái-Tôn khai chầu, trăm quan áo mũ lạy trước sân rồng, tung hô ba tiếng, rồi có
Thái-sư tướng-quốc là Trần-thủ-Độ (chú vua) ra ban tâu rằng:
- Tâu bệ hạ, nay có chúa trại Qui-hóa báo tin rằng quân Mông-cổ tràn vào phận Hưng-hóa, xin
thánh chỉ phán cho làm sao?
Mặt rồng nổi giận, phán rằng:
- Mông-cổ vô cố dám lấn vào cõi ta, chẳng hay văn võ các ngươi, có ai ra phòng ngữ được cho
trẫm không?
Có một vì vương bước ra tâu rằng:
- Muôn tâu bệ-hạ, thần xin cất quân ra phòng ngữ.
Vua nhác trông ra thấy một vì mắt phượng, môi son, trán cao, hàm én, oai phong dũng mãnh, tướng
mạo khôi ngô, mới gần trạc 30 tuổi.
Vua cả mừng nói rằng:
- Nếu cháu có bụng can đảm như thế, vậy thì cho cháu cất quân đi, nhưng ra đó mà liệu thế không
chống nổi, thì lập tức phi báo về cho trẫm biết.
Vị ấy mừng rỡ lạy tạ giở ra, các quan đều trông mặt thì là Hưng-đạo vương, ngài họ Trần húy
Quốc-Tuấn, phụ thân ngài là An-sinh vương Liễu, tức là anh ruột vua Thái-tôn, mẫu thân là An-sinh
vương phu-nhân, húy Nguyệt.
Khi trước, phu-nhân có mơ thấy một ông thần, tinh vàng, tướng ngọc, tự xưng là Thanh-tiên-đồngtử, phụng mệnh Ngọc-hoàng, ban cho kiếm ấn và đủ tam tài, ngũ bảo, xuống xin đầu thai. Nhân thế có
mang. Đến khi sinh ra ngài[1] gió thơm ngào ngạt, ánh sáng rực nhà. Cách hôm sau có người đạo-sĩ
đến nói rằng: “Đêm qua tôi coi thiên văn, thấy một vì tướng tinh sa xuống ở đây, vậy tôi xin đến
bái kiến.” An-sinh-vương đưa ngài ra cho đạo-sĩ xem. Người ấy xem xong, nói rằng: “Quí hóa!
vương-tử mai sau tất yên được dân, cứu được đời, làm vẻ vang cho nhà-nước.”
Ngài đầy tuổi tôi đã biết nói. Lên sáu tuổi đã biết bày bát trận, làm thơ ngũ ngôn, thông minh khác
chúng, An-sinh vương kén những người có tài dạy ngài học ; ngài học đến đâu thông đến đấy, xem rộng
các sách, mà học thì cốt trọng trung hiếu làm đầu. Lại kiêm tập cả nghề võ; thường bàn thao-lược với
Chiêu-văn vương Nhật-Duật (con thứ sáu vua Thái-tôn), đêm ngày không biết chán, hai anh em rất
tương-đắc với nhau. Có khi hầu vua giảng sách trong tòa Kinh-diên, giảng bàn nghĩa-lý, ứng đối như
nước chẩy. Khi nào nhàn thì tập bắn. Lại thường đem lục-thao, tam-lược của Thái-công, Tử-phòng
diễn làm trận đồ, để dạy các tướng. Ngài xử với người bề dưới thì hiền-từ, tiết-kiệm, khoan-dong, đó
là tam-tài ; dùng người thì kén người trí-mưu, nhân-hậu, dũng-lược, trung-thực, tin-cẩn, đó là ngũ-bảo,
cho nên các tướng-sĩ nhiều người vui lòng theo với ngài.
Hưng-Đạo vương có bốn con, con cả là Hưng-võ vương Trần-quốc-Nghiễn, thứ hai là Hưng-hiếu
vương Quốc-Uy, hai vị bấy giờ đã 15,16 tuổi, giỏi nghề cung ngựa, sức lực hơn người. Con thứ ba là
Hưng-nhượng vương Quốc-Tảng, con thứ tư là Hưng-trí vương Quốc-Nghê, hai vị này thì mới 12, 13
tuổi, còn đang học hành. Lại có một cô con gái tên là Trinh, và một cô con nuôi tên là Nguyên. Hai
người tuy còn nhỏ, nhưng nhan-sắc, trông đã xinh-dòn, cũng đang học nghề nghiên bút.
Ngài lại có 5 tướng bộ-hạ cực giỏi: một người là Dã-Tượng, sức khỏe như voi ; một người là
Cao-Mang ; một người là Đại-Hành ; một người là Nguyễn-địa-Lô, ba người ấy cũng võ nghệ caocường, muôn người khôn địch. Một người họ Yết tên Kiêu tự là Hữu-Thế, người ở làng Hạ-bì tỉnh
Hải-dương, khi trước thường vác cuốc ra bãi bể, thấy hai con trâu trắng ở dưới bể lên chọi nhau trên
bãi cát, một hôm Yết-Kiêu ngồi dình cầm cuốc đánh vào đầu trâu, trâu chạy nhào cả xuống bể ; YếtKiêu giơ cuốc xem thì có lông trâu dính đầu cuốc ; Yết-Kiêu cho là của quí, nuốt ngay vào bụng, tự
bấy giờ sức khỏe lạ thường, lội dưới nước như đi trên mặt đất.
Khi ấy Hưng-đạo vương phụng mệnh về nhà thu xếp đồ khí giới, chia quân làm hai mặt, sai Dã-
Tượng dẫn một đạo đi đường bộ, Yết-Kiêu dẫn một đạo đi đường thủy, ngài dẫn hai con là Hưng-võ
vương, Hưng-hiếu vương và các tướng đi sau. Tháng chín năm ấy, trống vang giời, cờ dợp đất, ba đạo
quân tự thành Thăng-long kéo lên mặt Hưng-hóa.
Tướng tiên-phong là Dã-Tượng đến trước, cắm đồn lập trại, chia giữ các nơi, cách vài ba ngày,
Hưng-đạo vương dẫn đại quân cũng đến nơi.
Ngột-lương-cáp-Thai nghe tin đại quân chia làm hai ngả kéo đến, liền sai phó tướng là Xích-tu-Tư
dẫn quân đánh mặt thủy, còn mình thì dẫn quân đánh mặt bộ.
Hưng-đạo vương dàn trận, sai Dã-Tượng ra khiêu chiến. Dã-Tượng cắp đao phi ngựa ra trước
trận, thét to lên rằng:
- Bớ quân khuyển-dương kia! sao dám vô-cố xâm phạm vào nước ta?
Ngột lương-cáp-Thai nổi giận, sai tên kiêu-tướng là Áo-lỗ-Xích múa thương ra địch. Hai tướng
đấu nhau hơn 100 hợp, chưa rõ được thua, bỗng dưng trong trận Ngột-Lương trống nổi ầm ầm, quân
Mông-cổ chia làm hai mặt tràn đến, như nước vỡ đê. Hưng-đạo vương vội vàng chia quân ra địch ;
nhưng quân mình ít, quân Mông-cổ thì nhiều, Hưng-đạo vương liệu bề cự không nổi rút quân chạy về
Sơn-tây. Quân Mông-cổ thừa thế, đuổi tràn mãi xuống sông Thao mới đóng quân.
Yết-Kiêu nghe tin đại quân lui về Sơn-tây, cũng thu thuyền lui về. Xích-tu-Tư đuổi không kịp, liền
hợp quân với Ngột-lương-cáp-Thai.
Hưng-đạo vương đóng quân ở Sơn-tây, sai người về kinh-đô cáo cấp.
Vua Thái-tôn được tin cả kinh, hội quần thần lại thương-nghị, rồi truyền chỉ ngự-giá thân-chinh.
Sáng hôm sau sai kén 10 chiếc thuyền rồng cực to, và 300 chiến thuyền. Vua dẫn quân Thánh-dực
(tức là quân Ngự-lâm) làm trung-quân; Thái-sư là Trần-thủ-Độ và Tướng-quân là Nguyễn-Khoái dẫn
tả-quân, Thái-úy là Trần-nhật-Hiệu và Tướng-quân là Trần-bình-Trọng dẫn hữu-quân. Mỗi cánh dẫn
100 chiến thuyền, 3.000 quân-sĩ. Lê-phụ-Trần dẫn 20 chiến thuyền làm tiên-phong.
Thượng tuần tháng chạp, chiến thuyền kéo tự sông Phú-lương (tức sông Nhị-hà) lên mạn sông
Thao, đem quân lên bộ dàn trận.
Ngột-lương-cáp-Thai dẫn quân ra đánh. Vua xông pha mũi tên hòn đạn, đốc thúc các tướng vào
đánh. Tướng tiên-phong là Lê-phụ-Trần, một thương một ngựa, xông thẳng vào trận giặc đánh giết,
ngựa đến đâu, quân Mông-cổ rẽ ra đến đấy. Tuy vậy quân Mông-cổ bấy giờ đang mạnh thế quá, các
tướng đánh cũng hăng, nhưng vẫn kém thế. Một hồi lâu quan quân dần dần núng thế phải lui. Vua dẫn
quân xuống thuyền chạy về, sai Lê-phụ-Trần đi đoạn hậu, giặc cũng kéo xuống thuyền đuổi theo, tên
bắn như mưa, Phụ-Trần cầm một mảnh ván thuyền đỡ tên, thuyền vua chạy được thoát.
Hưng-đạo vương trông thấy thế giặc to quá, liệu bề giữ thành không nổi cũng rút quân về.
Quan quân lui về đến đâu, thì giặc thừa thế, đuổi tràn đến đấy. Dần dần tràn xuống đến sông Phúlương. Ngột-lương-cáp-Thai vào phá kinh-thành, thấy ba người sứ-giả, bị giam trong ngục, người nào
cũng trói bằng chạc tre, lẳn vào trong thịt. Nguyên là sứ của Mông-cổ, sai đến dụ hàng, mà vua không
nghe, giam lại ở đấy. Quân Mông-cổ cởi trói cho ba người ấy, thì một người bị đau mà chết.
Ngột-lương-cáp-Thai giận lắm nghiến răng mà nói rằng:
- Ái chả! ai ngờ quân Nam-việt độc dữ làm vậy, xưa nay hai nước đánh nhau, không giết sứ-giả
bao giờ, mà nỡ xử tệ ác thế?
Lập tức truyền quân-sĩ, cho làm cỏ nhân dân trong thành. Thương hại thay! già trẻ trăm họ bấy giờ,
tóc bạc, đầu xanh, làm gì nên tội, chẳng may gặp phải quân hung-ác, giận cá chém thớt, nó biết trách
người xử tệ, mà nó xử tệ lại gấp trăm, gấp nghìn! Xưa nay an-nghiệp sung-sướng nhường nào, mà bỗng
dưng người bị đâm, kẻ bị chém, người già, con trẻ cũng mắc phải tai nạn, cửa nhà tàn phá, vườn ruộng
tan hoang, nói ra xót ruột đau lòng, ai là không muốn sả thây moi ruột những quân tàn ác ấy.
Quân Mông-cổ làm cho phũ tay tàn ác, rồi lại tiến quân đuổi theo đến bến Đông-bộ-đầu (thuộc
huyện Thượng-phúc, Hà-nội). Vua lui quân về sông Thiên-mạc (thuộc về phủ Lý-nhân).
Hưng-đạo vương bấy giờ tuy được dự cầm quân, nhưng quyền chính còn do tự thái-sư Trần-thủĐộ, và thái-úy Trần-nhật-Hiệu. Thủ-Độ cũng là một tay tài cán giỏi, hết lòng lo việc nước. Nhật-Hiệu
thì tiếng là hoàng-thân, cầm quyền triều-đình, mà trí mưu thì kém, lắm lúc nguy hiểm không có tài ứng
biến.
Khi ấy vua thấy quân Mông-cổ mạnh thế, quân mình đã nguy núng đến nơi. Ngự thuyền đến hỏi
Nhật-Hiệu xem có kế gì không. Nhật-Hiệu đang ngồi đầu thuyền, thấy vua hỏi, không biết nghĩ ra làm
sao, mới cầm cái bơi chèo viết xuống nước hai chữ “Nhập Tống”, là có ý khuyên vua chạy sang
Tống.
Vua lại hỏi:
- Thế quân Tinh-cương [2] ở đâu?
- Tâu bệ-hạ, đòi chúng nó không đến nữa.
Vua bực mình, quay thuyền đến hỏi Trần-thủ-Độ. Thủ-Độ thì gan vẫn vững, mà ứng biến lại nhanh,
liền tâu rằng:
- Muôn tâu bệ-hạ, đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ-hạ đừng lo!
Vua thấy nói cứng cỏi, bấy giờ cũng hơi vững dạ.
Đó là:
Chỉ vị bền lòng lo việc nước,
Mới hay phá giặc lập công to.
Chưa biết sự thể về sau thế nào, sẽ xem hồi sau phân giải.
HỒI THỨ HAI
Khéo dùng mưu, thế bại thành thế thắng,
Chịu thông hiếu, cuộc chiến đổi cuộc hòa.
Bấy giờ vua Thái-tôn đóng quân ở sông Thiên-mạc, cự nhau với quân Mông-cổ non nửa tháng, sực
lại có hai sứ-giả của Ngột-lương-cáp-Thai sai đến dụ hàng. Vua giận quân Mông-cổ độc ác, sai trói
sứ-giả đuổi về. Liền hội các quan thương nghị kế phá giặc.
Trần-thủ-Độ hiến kế rằng:
- Quân Mông-cổ tự khi sang đây, đánh trận nào được trận ấy, tướng sĩ sinh bụng kiêu căng, coi ta
rẻ rúng, chắc không phòng bị, vậy đêm hôm nay xin đến cướp trại giặc thì tất phá được.
Vua nghe nhời, sai Thủ-Độ, Nhật-Hiệu, Lê-phụ-Trần lĩnh 5.000 quân, dẫn 50 chiến thuyền, kéo tự
đấy lên bến Đông-bộ-đầu. Một mặt sai Hưng-đạo vương, dẫn 30.000 quân mã men bờ sông tiến lên.
Còn vua tự dẫn 30.000 quân tiếp ứng.
Chiều vàng vàng mặt giời, Thủ-Độ truyền quân ngả cờ im trống dần dần tiến lên bến Đông-bộ-đầu.
Bấy giờ vào đầu hạ tuần tháng chạp, thuyền đi mặt nước, lấp loáng bóng giăng, mấy chòm u uất bóng
cây xanh, một giải mông mênh mầu lụa trắng, bốn bề lặng ngắt, thuyền đi vùn vụt như tên. Khi canh hai
gần đến trại giặc, cách 3 dặm mặt sông, gặp mười chiếc thuyền tuần-tiễu của giặc mỗi thuyền ước
chừng 30 người. Thủ-Độ nổi hiệu còi, dàn thuyền vây, bắt được 8 chiếc, còn 2 chiếc chạy thoát về phi
báo. Thủ-Độ thúc thuyền bơi ùa vào đuổi mãi đến tận trại giặc, quả nhiên giặc không phòng bị trước.
Lê-phụ-Trần trước hết xông vào, phóng hỏa đốt thuyền giặc, quan quân dàn thuyền ra ba mặt đánh thốc
vào. Quân Mông-cổ đương giấc ngủ mê, choàng đứng dậy, kinh hồn thất đảm, xô xát, dẫm nhau, kẻ thì
chạy lên bờ, kẻ thì nhào xuống sông, chỉ tìm đường thoát thân, không ai bụng nào kháng cự.
Đêm hôm ấy, trên mặt sông, lửa sáng rực giời, trống đánh vang sông, Ngột-lương-cáp-Thai ở trại
trên cạn, vội vàng thúc quân xuất chiến thuyền ra đánh, lại gặp phải đại quân của vua Thái-tôn vừa
đến, hợp binh đánh giết, quân Mông-cổ chết hại rứt nhiều.
Ngột-lương-cáp-Thai thấy núng thế, lại kéo quân lên bộ tháo đường chạy. Quan quân chia làm hai
mặt, một mặt đánh dưới sông, một mặt lên bộ đuổi theo.
Ngột-lương-cáp-Thai dẫn bại quân tất tả cắm đầu chạy, đến đầu canh tư bỗng thấy một tiếng pháo
nổ, lửa cháy bùng bùng, quân ở đôi bên đường kéo ra đánh. Ngột-lương-cáp-Thai trông thấy hiệu cờ
Hưng-Đạo vương cố sức chống cự một hồi, rồi vừa đánh vừa lui, chạy thoát vào thành Thăng-long.
Thuyền giặc phần bị cháy, phần bị đắm mất nhiều, chỉ chạy thoát được một ít mà thôi, còn bao
nhiêu thì bị quan quân bắt được cả.
Sáng hôm sau, vua Thái-tôn đốc quân thắng trận lên sông Phú-lương, khôi phục kinh thành. Ngộtlương-cáp-Thai rút quân lên mặt thượng-du. Vua Thái-tôn thu phục kinh-đô, mở tiệc khao thưởng các
tướng, phủ-dụ ba quân. Cất Lê-phủ-Trần làm Ngự-sử đại-phu, và gả Thiên-thánh công-chúa họ Lý cho.
Vua lấy nhời an ủy rằng:
- Trẫm khen ngươi cả gan xông đột, nếu không có ngươi thì sao có lúc bây giờ, vậy ngươi nên gắng
sức thêm lên, để cùng hưởng sung sướng với nhau mãi mãi.
Lê-phụ-Trần lạy tạ ơn vua.
Vua lại xa tội cho tên tiểu-hiệu Hoàng-cự-Đà. Nguyên khi trước vua có ban cho tả hữu, mỗi người
một quả muỗm, Hoàng-cự-Đà không được, mang lòng căm tức. Đến khi đại-quân cự nhau với quân
Mông-cổ ở Đông-bộ-đầu. Cự-Đà đi một chiếc thuyền lẻn về trước. Đi đến sông Hoàng-giang (thuộc
về huyện Nam-sang) thì gặp Thái-tử đi thuyền ngược lên, Cự-Đà bơi thuyền lánh vào ven bờ. Quan
quân trông thấy gọi to lên rằng: “Quân Mông-cổ ở đâu?” Cự-Đà vốn lòng căm tức đã lâu, nhân dịp
nói cho hả, liền đáp lại rằng: “Không biết! hỏi những thằng ăn muỗm ấy!” Thái-tử nổi giận, muốn
bắt trị tội ngay, nhưng còn mắc việc đánh giặc là quan hệ hơn, vậy mới để tội ấy không hỏi vội. Đến
khi nay bình định đâu đấy, Thái-tử xin bắt tội Cự-Đà. Vua thương hại đứa ngu dại, vì một miếng ăn nên
oán, coi quả muỗm to hơn quả núi Tản-viên, quên bụng trung vua yêu nước, dù có giết đi cũng chẳng
làm gì, vậy vua xá tội cho thân sâu bọ ấy, để cho khi khác biết khôn đánh giặc mà chuộc tội.
Nói về Ngột-lương-cáp-Thai kéo quân về mặt thượng-du, qua địa phận Hưng-hóa để về Vân-nam.
Khi qua một cánh rừng, bỗng thấy hai bên sườn núi, trống đánh thùng thùng, rồi thấy một đội quân mã,
ước chừng 3.000 người, đầu đội nón buồm, mình mặc áo xanh, mỗi người tay cầm một đồ binh khí,
lưng đeo một bộ cung tên, kéo tràn xuống núi, một tướng đi đầu mắt lồi, râu rậm, mặt sàm sạm đen,
tướng dữ như cọp, một tay cầm lá mộc, một tay cầm mã-đao, quất ngựa xông vào, quát lên rằng:
- Quân kia đi đâu?
Ngột-lương-cáp-Thai sai tên tì tướng múa thương ra đánh, vừa nhẩy vào thì đã bị tướng ấy chém
quay xuống ngựa. Quân Mông-cổ kéo bừa vào đánh, quân bên kia bắn tên ra như mưa, trên đầu tên có
thuốc độc, ai hơi tin phải thì buốt vào đến xương rồi chết. Hai bên đánh nhau lộn bậy một hồi, Ngộtlương-cáp-Thai, tháo đường chạy được thoát. Quân Mông-cổ chết hại rất nhiều.
Tướng ấy nguyên là chúa trại Qui-hóa họ Hà tên Bổng, xưa nay vẫn là người hùng-dũng vùng ấy.
Hà-Bổng biết tin quân Mông-cổ thua trận, tất do đường ấy về Tàu, cho nên họp tập quân mường, đón
đường đánh chẹn ngang.
Ngột-lương-cáp-Thai dẫn quân về Vân-nam. Hà-Bổng thì sai người về kinh-đô, báo tin thắng trận,
và nộp các đồ bắt được của giặc.
Vua thấy người can-đảm hùng-dũng làm vậy, cả khen và phong cho Hà-Bổng tước hầu lại ban
thưởng cho rất hậu.
Quân Mông-cổ tự khi thua trận ấy trở về, phần là thua thì sinh chán, phần là mới lấy được Vânnam, chỉ mong về cho chóng, không bụng nào tranh chiếm gì nữa, cho nên đi đến đâu không nhũng
nhiễu gì đến dân sự. Dân thì còn biết bụng giặc là thế nào, thấy nó không quấy nhiễu, thì cho là giặc
hiền lành, nhân đức, gọi là
Phật-tặc, nghĩa là giặc hiền như bụt.[3]
Vua Thái-tôn bình định xong giặc Mông-cổ, sai sứ sang Tống-triều thông hiếu, cống một đôi tượng,
vì bấy giờ nước ta vẫn phải cống về Tàu. Mông-cổ thấy vậy cũng sai sứ sang bắt ta phải cống. Vua
nghĩ nước mình hẹp nhỏ, mà Mông-cổ tuy tạm thua một lúc, nhưng vẫn có thế hùng-cường, mà mình
không có thể cưỡng mãi được. Nghĩ như thế mới sai Lê-phụ-Trần sang sứ, định 3 năm xin nộp cống
một lần.
Tháng hai năm Mậu-ngọ, vua nhường ngôi cho Thái-tử Hoảng. Thái-tử lên ngôi, tức là vua Thánhtôn, cải niên hiệu gọi là Thiệu-long. Tôn vua cha lên làm Hiển-nghiên-thánh-thọ Thái-thượng hoàngđế.
Vua Thánh-tôn lên ngôi phong em là Quang-Khải (con thứ hai vua Thái-tôn) làm Chiêu-minh đạivương. Cất Nguyễn-giới-Huân làm Đại-hành-khiển, Lê-phụ-Trần làm Thủy-quân Đại-tướng-quân.
Năm Canh-thân niên hiệu Thiệu-long thứ ba (năm Cảnh-thịnh thứ nhất nhà Tống và năm Trungthống thứ nhất vua Thế-tổ nhà Nguyên, lịch tây 1260) Mông-cổ sai Nạp-xích-Đinh mang chiếu-thư
sang dụ rằng:
“Khi trước sai sứ sang thông-hiếu, dám giam chấp lại không cho về, cho nên năm ngoái mới
sinh việc binh nhung. Khi sau cho hai sứ sang chiêu an, lại dám trói mà đuổi về. Nay lại cho sứ
sang khai dụ lần nữa, nếu biết đổi dại dốc lòng nội phụ, thì phải thân sang chầu”.
Vua Thánh-tôn tiếp được thư, phục thư lại rằng:
“Đợi khi nào có chiếu mạng đưa đến, sẽ xin sai tử-đệ vào làm tin”.
Nguyên Thế-tổ tiếp được thư giả nhời, bèn sai Lễ-bộ Lang-trung là Mạnh-Giáp và Viên-ngoại-lang
là Lý-văn-Tuấn lại đem thư sang dụ rằng:
“Phàm các quan liêu, sĩ, thứ bên An-nam, áo, mũ, phép, tắc, mặc y cho tuân tục bản quốc.
Trung-quốc cũng đã răn bảo các quan ngoài biên cương, cấm không được tự tiện xâm nhiễu, vậy
cứ yên trị như xưa.”
Vua nghĩ nước mình nhỏ, qui hồ giữ được trong nước yên ổn, không ai xâm phạm đến quyền mình
thì thôi. Vả lại việc thông hiếu cũng là việc thường, mà người ta đang mạnh thế, mình cũng không thể
vượt được. Ngài mới mở tiệc yến trong cung Thánh-từ, thết đãi bọn sứ-giả, rồi lại sai Đại-phu là
Trần-phụng-Công, và Viên-ngoại-lang là Nguyễn-Diễn sang sứ Mông-cổ đáp-lễ.
Vua Mông-cổ thấy nước ta xử tử-tế chịu phục, mới sai sứ đem sắc sang phong vương cho vua
Thánh-tôn và ban thưởng 3 cuốn gấm Tây-thục, 6 cuốn gấm hoa vàng, định cho nước ta 3 năm phải một
lần vào cống, mỗi lần cống phải nộp vài người nho-sĩ, và thầy-thuốc, thầy-bói, thầy toán-số, thợ
thuyền mỗi hạng 3 người ; lại phải cống đồ sản vật, như các hạng trầm-hương, sừng tê, trân-châu, đồimồi, vân, vân. Lại sai Nạp-xích-Đinh sang làm đạt-lộ-hoa-xích (tiếng Mông-cổ tức là quan chưởngấn) để giám trị các châu quận nước Nam.
Vua sai Dương-an-Dưỡng sang Mông-cổ tạ ơn. Mông-cổ lại tặng thêm một bộ đai ngọc, the lụa và
các vị thuốc.
Vua tuy sợ thế Mông-cổ, bất đắc dĩ phải chịu nhún, nhưng vẫn có bụng căm tức, tháng ba năm
Nhâm-tuất, vua xuống chiếu hội tập các tướng và quân-sĩ các nơi, tập chiến-trận ở bãi phù-sa sông
Bạch-hạc (thuộc về tỉnh Vĩnh-an bây giờ), sửa sang đồ khí-giới, chế tạo chiến thuyền, có ý dự phòng
việc chinh-chiến.
Bấy giờ Thái-sư Trần-thủ-Độ đã già yếu lắm. Đương mùa tháng chạp, giời bỗng nhiên nổi bão to,
cây cối đổ ngổn ngang, dân gian tàn hại, mà Thủ-Độ phải bệnh mỗi ngày một nặng thêm, đến tháng
giêng năm sau thì mất.
Thủ-Độ tuy là người thiển học, thờ nhà Lý thì thực là một tay gian-hùng tàn-ác, nhưng đến làm tôi
nhà Trần, thì lại ra người hết lòng hết sức mấy vua, mà cầm quyền thì rất là công bình. Vua Thái-tôn
được thiên-hạ, toàn là mưu mô tự Thủ-Độ cả ; về sau Thủ-Độ vững lòng lo việc nước, khiến cho nhà
nước nguy lại yên, kể ra thì cũng là một tay tài cán giỏi.
Có thơ khen rằng:
“Sóng gió đùng đùng vận hiểm gian,
Một tay xoay xở chống giang-sơn.
Còn đầu còn vững lòng lo nước,
Ấy mới anh-hùng ấy mới gan!”
Năm Bính-dần thứ chín, (niên hiệu Hàm-thuần thứ hai nhà Tống, và Chí-nguyên thứ ba nhà
Nguyên, lịch tây 1266). Mông-cổ sai sứ đến ban chiếu cải nguyên và ban lịch mới năm ấy.
Tháng hai vua lại sai Dương-an-Dưỡng sang xứ Mông-cổ, xin định lại các thứ nộp cống, và xin
miễn cho không phải cống các hạng nho-sĩ, bói-toán, thợ-thuyền, lại xin lưu Nạp-xích-Đinh làm đạtlộ-hoa-xích mãi mãi.
Vua Mông-cổ tuy hứa nhời ưng cho, nhưng không bao lâu lại có chiếu sang bắt ta phải chịu sáu
khoản sau này:
1 – Phải thân vào chầu.
2 – Sai con hoặc em sang làm tin.
3 – Biên số dân nộp sang.
4 – Phải chịu việc binh-dịch.
5 – Nộp thuế má.
6 – Vẫn cứ đặt quan giám-trị.
Vua Thánh-tôn thấy Mông-cổ bắt phải chịu sáu khoản như thế, tuy ngoài mặt vâng nhời, nhưng vẫn
dùng dằng không chịu. Cách hai năm sau, Mông-cổ lại sai Hốt-lung-hải-Nha sang thay cho Nạp-xíchĐinh làm đạt-lộ-hoa-xích, mà Trương-đình-Trân thì làm phó đạt-lộ-hoa-xích. Hai người mang chiếu
thư của vua Mông-cổ đến, vua nhận chiếu không bái mạng, mà cũng không xuống chào mời bọn sứthần. Vua bảo với bọn ấy rằng:
- Các ngươi là một chức quan ngang hàng thế nào được với ta?
Trương-đình-Trân nói rằng:
- Chúng tôi tuy làm quan, nhưng là người của thiên-tử ; người của thiên-tử tuy rằng nhỏ, cũng còn ở
trên hàng vua chư-hầu.
Vua nghiễm nhiên không đáp lại. Bọn ấy biết ý vua không nghe, từ giở ra về.
Không bao lâu tòa Trung-thư bên Mông-cổ lại viết thư sang dẫn nghĩa xuân-thu nói: “Nguyên, là
trung-quốc, mà Nam-việt là chư-hầu nghĩa tất phải kính trọng thiên-sứ."
Vua cũng nhất định không chịu, sai Lê-Đà và Đinh-củng-Viên sang sứ Mông-cổ biện bác nghĩa ấy.
Lê-Đà, Đinh-củng-Viên, hai người đều có tài ứng đối, khi ấy phụng mệnh đi sứ, sang đến triềuđình Mông-cổ, vua Mông-cổ mắng rằng:
- Các ngươi là sứ-thần Nam-man có phải không?
Lê-Đà tâu rằng:
- Tâu thiên-triều hoàng-đế, mọi-rợ mới gọi là man, nước chúng tôi là nước văn-hiến, không tranh
bờ lấn cõi nước nào, mà cũng không hà hiếp ai, không gọi mà man được. Chúng tôi là sứ-thần Namquốc, chớ không phải sứ-thần Nam-man.
Vua Mông-cổ thấy nói có ý sỏ xiên, tức giận, quát mắng:
- Nam chúa nhà các ngươi, không biết sức mình, làm sao dám ngạo-nghễ cả với thiên-triều?
- Chúa chúng tôi cũng chịu thiên-triều là to nhớn hơn, mới phải cống hiến, sao lại gọi là ngạonghễ?
- Vậy chớ sao chiếu-thư đến không lạt, mà lại không kính trọng sứ-thần?
- Lễ bái, chẳng qua là hư-văn, che mặt thế gian ở ngoài. Chúa chúng tôi kính trọng thiên-triều là
cốt tự trong lòng. Thiên-triều nếu sử nhân đức với ngoại-quốc, thì dù chẳng lễ nhưng vẫn kính trọng
muôn phần ; nếu không có bụng kính trọng thì cho rằng bày hương-án, áo mũ lễ thì thụp, cũng chẳng ra
gì. Còn như sứ-thần chẳng qua là một người của thiên triều sai sang, hoàng-đế là vua một nước nhớn,
chúa tôi cũng là vua một nước nhỏ, có chịu thì chỉ chịu kém hoàng-đế mà thôi, có nhẽ đâu lại phải kém
cả đầy-tớ của thiên-triều nữa?
Vua Mông-cổ thấy hai người cãi gàn, lại càng giận lắm, hầm hầm quát rằng:
- Quân tao đi đến đâu, tan vỡ đến đấy, chỉ sông, sông cạn, chỉ núi, núi tan, chúng bay có biết
không?
Đinh-củng-Viên tâu rằng:
- Hoàng-đế đem nhân nghĩa ra trị thiên-hạ, thì ai chẳng kính phục ; nếu chỉ cậy binh hùng tướng
dũng, thì nước nào chẳng có binh có tướng, có sông núi hiểm trở? Nước chúng tôi tuy nhỏ mọn, cũng
đủ binh tướng cho ra tiếp ứng quân của thiên-triều.
Vua Mông-cổ thấy hai người ứng đối cứng cỏi, mà nói cũng có nhẽ dễ nghe, biết là không ăn hiếp
nổi, mới dịu sắc mặt dụ rằng:
- Các ngươi nói tuy có nhẽ, nhưng phép xưa nay có chiếu mạng thiên-triều đến thì phải lạy, mà
phải trọng đãi sứ-thần. Nếu từ sau còn cưỡng nữa, thì trẫm sẽ cất quân đến hỏi tội đó.
Hai người lạy từ giở ra.
Sáng hôm sau, Mông-cổ mở một tiệc yến trên tròi cao. Tròi có một cột cao 10 trượng, ở trên cắm
một đôi tàn, mời hai sứ lên ăn yến. Hai người biết Mông-cổ muốn thử tài, không lên thì tất bị chúng
cười, mới trèo thang lên ăn yến. Vừa lên khỏi, quân Mông-cổ ở dưới cất thang. Hai người cứ vững
vàng ăn uống như không, no say đâu đấy, mỗi người cầm một cái tàn từ trên trời nhảy xuống. Tàn hứng
gió cứ từ từ xuống đấy, quân Mông-cổ ai cũng chịu là có trí.
Mông-cổ thấy vậy lại bắt hai người giam vào một cái chùa, không cho thức ăn gì cả, khóa kín của
bốn bề, hẹn rằng: “Hết một tháng thì cho ra”. Hai người ở trong chùa, chỉ thấy có hai ông bụt và một
chum nước.
Lê-Đà bảo với Đinh-củng-Viên rằng:
- Có nước thì tất phải có cái, hai ông bụt này chắc là đồ ăn của ta đây!
Hai ng...
 





